Chọn nghề theo “đám đông”?

Chọn nghề theo “đám đông”?

AT – Có hơn 250 trường ĐH, CĐ cả nước có tuyển sinh đào tạo các ngành: kinh tế, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, kế toán… Các trường trung cấp chuyên nghiệp đua nhau mở ngành y – dược với quy mô đào tạo “khủng”: mỗi tỉnh đào tạo hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn người mỗi năm. Đổ xô đi học kinh tế, y dược đang là xu hướng chọn lựa ngành nghề của số đông bạn trẻ bất chấp những nguy cơ “nghề không chọn người” sau khi tốt nghiệp.

Gần 40% chỉ tiêu ĐH, CĐ 2012 đang được ưu ái dành cho các ngành nhóm kinh tế. Ở bậc trung cấp chuyên nghiệp, tổng số HS nhập học nhóm các ngành kinh tế, ngành y, dược chiếm đến hơn 60% tổng số HS chính quy toàn quốc. Đi cùng bùng phát chỉ tiêu các ngành kinh tế, y dược là sự lặng lẽ lùi bước các ngành nhóm kỹ thuật công nghệ, nông nghiệp…

Nhất kinh tế, nhì y dược?

Vì số trường có đào tạo nhóm kinh tế rất “hùng hậu” nên tỉ lệ hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ bình quân trong ba năm 2009-2011 vào bốn ngành này chiếm đến 41% tổng số hồ sơ đăng ký dự thi. Nếu tính chung cả nước, nhóm ngành kinh tế đang dẫn đầu về chỉ tiêu tuyển sinh cũng như số người đăng ký dự tuyển và số SV đang theo học hằng năm. Mùa tuyển sinh 2012, thêm nhiều ngành học phải đóng cửa vì không có người học. Nhưng các ngành nhóm kinh tế vẫn dồi dào nguồn tuyển. Trong khi đó, tại TP.HCM, nhóm ngành y dược đang có đông người học nhất ở bậc trung cấp chuyên nghiệp. Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm học mới giáo dục chuyên nghiệp do Sở GD-ĐT tổ chức sáng 5-10-2012, những thống kê quy mô đào tạo của các trường năm học 2011-2012 tại TP.HCM, một lần nữa thể hiện sự mất cân đối ở mức báo động trong cơ cấu ngành nghề đào tạo bậc học này.

Chỉ trong một năm học và chỉ tính riêng các trường tại TP.HCM đã có 23.440 người học trung cấp nhóm ngành y – dược (chiếm gần 36% tổng số người học), gần 19.000 người học nhóm ngành kinh tế (chiếm gần 30%). Chỉ có 277 người đang theo học trung cấp sư phạm mầm non và tiểu học (chiếm chưa đến 0,5% số học sinh bậc học này). Trong khi đợt tuyển giáo viên đầu năm học 2012, thành phố đang thiếu hơn 1.400 giáo viên mầm non, tiểu học. Tình trạng thiếu giáo viên mầm non và tiểu học tại TP.HCM kéo dài nhiều năm qua. Năm nào thành phố cũng phải tuyển người tốt nghiệp trung cấp sư phạm từ các tỉnh nhưng vẫn không sao tuyển đủ giáo viên hai bậc học này. Nhiều tỉnh thành phía Nam cũng trong tình cảnh tương tự: thiếu rất nhiều thầy cô giáo bậc mầm non, tiểu học nhưng thừa giáo viên bậc trung học.

Con số thống kê từ các trường trung cấp tại TP.HCM cho thấy: số người theo học ngành y dược gấp hơn 80 lần số người theo ngành sư phạm. Nhóm ngành công nghệ thông tin cũng có số HS khiêm tốn bằng 1/4  số người học y dược và 1/3 số người học kinh tế. Số người theo học ngành điện – điện tử; cơ khí – ôtô; du lịch mỗi nhóm có 3.600-4.400 người học; được đánh giá có tỉ lệ khá cao so với cả nước tuy vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nhân lực trên địa bàn. Nhóm ngành nông lâm ngư và sư phạm đứng chót trong sự chọn lựa của HS trung cấp chuyên nghiệp tại TP.HCM.

Sẽ không còn nhân lực kỹ thuật?

Thống kê cụ thể trên 103.500 phiếu đăng ký dự thi ĐH, CĐ 2012, có 37,98% thí sinh “khoái” ngành kinh tế, và 21,38% chọn ngành quản trị kinh doanh. Ngoài ra, 17% bị hấp dẫn bởi ngành y dược, chỉ còn lại hơn 23% lựa chọn cho toàn bộ các ngành nghề còn lại. Tỉ lệ này là bằng chứng cho thấy sự “thiên vị” của bạn trẻ đối với các ngành nghề kinh tế, y dược. Đây có phải là những ngành học hấp dẫn, dễ đậu, dễ học như nhiều bạn trẻ vẫn tưởng? GS.TS. Trần Hồng Quân, nguyên bộ trưởng Bộ Giáo dục – đào tạo, trong một lần trao đổi với Tuổi Trẻ từng nhận định: “Trong 88 trường ĐH ngoài công lập thuộc hiệp hội, rất khó tìm ra trường không đào tạo chuyên ngành kinh tế – tài chính – kế toán – quản trị kinh doanh. Một nguyên nhân quan trọng khiến đa số các trường chọn đào tạo ngành “hot” này vì chi phí đầu tư cho đào tạo ít hơn hẳn so với các ngành khác”. Dễ tuyển sinh, chi phí đào tạo thấp, các trường đua nhau mở ngành kinh tế; người học đổ xô theo ngành, đây là lý do khiến số người học nhóm ngành này chiếm thế áp đảo chứ không hẳn vì đó là những ngành xã hội có nhu cầu lớn.

Một điển hình từ TP.HCM cho thấy một năm có hơn 23.000 người học nhóm ngành y dược, chỉ riêng chỗ thực hành, thực tập đã phải chen chân. Mỗi năm hơn 20.000 người tốt nghiệp y dược, tìm việc làm sẽ là điều hết sức vất vả – một hiệu trưởng trường trung cấp nhận định. Trong khi đó, tỉnh nào cũng có trường đào tạo ngành y tế, điều này cho thấy cơ hội việc làm cho người học ngành y dược trong tương lai cũng sẽ hạn hẹp.

Băn khoăn trước thực trạng bùng phát chỉ tiêu ngành y dược, một cán bộ Trường ĐH Y Dược TP.HCM nói: “Đặc thù đào tạo ngành y phải thực tập bệnh viện nhiều. Vì thực tập trực tiếp trên người bệnh, mỗi nhóm HS thực tập, trường phải cử giảng viên hướng dẫn. Nhưng nay ở nhiều trường trung cấp do thiếu giáo viên, việc hướng dẫn kèm cặp HS thực tập bị buông lỏng. Chúng tôi đã gặp nhiều đoàn HS thực tập cũng đến bệnh viện nhưng không có thầy cô hướng dẫn, đứng xớ rớ ngó nghiêng… Có nơi, số HS thực tập còn đông hơn bệnh nhân. Học ngành y mà chỉ được thực tập sơ sài như vậy, sau này họ sẽ khám chữa bệnh như thế nào? Nghĩ mà rùng mình!”.

Trong khi đó, Th.S Nguyễn Mỹ Phi Phụng, phó hiệu trưởng Trường CĐ Công nghệ Thủ Đức, bày tỏ băn khoăn sự khan hiếm nhân lực các ngành kỹ thuật: “HSSV tốt nghiệp các ngành cơ khí ra trường bao nhiêu, các doanh nghiệp tuyển hết bấy nhiêu. Nhìn chung, học ngành kỹ thuật không quá vất vả tìm việc làm. Tuy nhiên, các ngành kỹ thuật đang chết đi, số lượng HS lèo tèo, nhiều trường chỉ có một ngành và một lớp. Nếu cứ chọn nghề theo phong trào, bất chấp nhu cầu xã hội, 10 năm nữa hoặc sớm hơn, ta sẽ không còn nhân lực kỹ thuật”.

Lý giải việc vài năm gần đây học sinh có phong trào đua nhau học nhóm ngành kinh tế, ông Trần Anh Tuấn – phó giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM – nói: Trường mở càng nhiều thì học trò càng đua nhau học vì có nhiều cơ hội trúng tuyển và nhiều người học thì có thêm nhiều trường mở ra… Việc người học chọn trường theo phong trào, đổ xô vào vài ngành nào đó dẫn đến tình trạng nhiều SV học ngành không phù hợp với năng lực, sở thích của mình và nhiều người làm trái nghề. Đây lại là sự lãng phí lớn. Một nghiên cứu cho thấy nếu học nghề nào đó mà không làm nghề thì sẽ “mất nghề”, chỉ còn lại… tấm bằng và thất nghiệp.

PHÚC ĐIỀN

This entry was posted in Hướng nghiệp- Luyện thi đại học/tốt nghiệp hiệu quả cho học sinh cấp 3. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s