Một số câu hỏi hướng nghiệp thường gặp – phần 5

Mt s câu hi hướng nghip thường gp – phn 5

Trong trường hợp chúng em chưa tiếp xúc và chưa hành nghề, làm sao để biết nghề ấy có “yêu” mình hay không, có tương hợp với mình hay không?

– Sự giao duyên giữa nghề với người (có duyên nợ hay không) qua trải nghiệm thực tế sẽ càng thấy rõ, tất nhiên. Nhưng bước đầu, qua trắc nghiệm khách quan cũng có thể giúp ta biết được về cơ bản, ta có hợp (hay không hợp) với nghề định chọn. Hiện nay, trên mạng lưới tư vấn giáo dục, có nhiều trung tâm tư vấn hướng nghiệp mà tại đó có cả trắc nghiệm hướng nghiệp.

Trắc nghiệm hướng nghiệp là một loại hình trắc nghiệm khách quan hướng về việc chẩn đoán và phát hiện những đặc điểm tư chất của cá nhân đối với nghề nghiệp. Kết quả trắc nghiệm này được coi là cơ sở khoa học để tư vấn hướng nghiệp, góp phần hỗ trợ cho HS tự hiểu mình một cách khách quan hơn. Từ đó biết chọn học ngành nghề nào cho phù hợp, đồng thời tránh được những nghề không phù hợp.

Chúng em thấy có nơi trắc nghiệm hướng nghiệp chỉ căn cứ vào chỉ số IQ. Điều đó đã đủ cơ sở để quyết định việc lựa chọn đúng ngành nghề phù hợp hay chưa?

– Chưa, chưa đủ. Để chẩn đoán được chính xác, ngoài IQ test, còn phải bổ sung nhiều loại hình trắc nghiệm khác nữa, như EQ test (đo chỉ số cảm xúc – Emotion Quotient), AQ test (đo chỉ số vượt khó – Adversity Quotient), CQ test (đo chỉ số sáng tạo – Creation Quotient)… Tối thiểu, ta nên chọn nơi nào, bài trắc nghiệm nào có ít nhất 2 loại test: IQ và EQ, vậy mới hy vọng có sự chẩn đoán gần chính xác.

Kết quả của IQ test chỉ cho ta biết về sức bật trí tuệ và khả năng nhận thức, chưa thể cho biết về tính cách cá nhân và năng lực tinh thần. Mà điều thứ hai (tính cách và tinh thần) đặc biệt quan trọng hơn điều thứ nhất (trí tuệ và nhận thức). Nó nói lên những phẩm chất đặc trưng của con người và những giá trị bản thân của người đó tương thích (hoặc không tương thích) với nghề nào. Nghề sẽ chọn và “yêu” người nào không chỉ thành thạo kỹ năng làm việc, nó còn kén chọn những ai có một tâm hồn và thái độ làm việc tương xứng với nghề.

Tại sao các chỉ số EQ, AQ… có thể đo được những phẩm chất đó mà riêng IQ không làm được?

 

– Đơn giản vì chỉ số thông minh (IQ) chỉ nói lên được người đó mạnh hay yếu về sức học và năng lực nhận thức, nghĩa là mới xác định được phần TRÍ, trong khi nhân cách của mỗi người lại gồm tối thiểu 5 yếu tố: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng. Bốn phần còn lại (ngoài Trí) phải được đo đạc bằng những chỉ số khác, trong đó, riêng chỉ số cảm xúc (EQ) là đo gần được cả Nhân, Lễ, Nghĩa… Chính những giá trị đó nói lên phần “hồn” của con người trực tiếp liên quan đến nghề nghiệp. Tâm lý học hiện đại đã khẳng định điều này. Các nhà doanh nghiệp khả kính và thành công (theo nghĩa chân chính) đều có chỉ số EQ và AQ cao chứ không nhất thiết IQ cao.

Giữa IQ và EQ có mối quan hệ tương hỗ như thế nào trong việc chọn nghề và hướng nghiệp?

– IQ cần cho con người khi nghiên cứu sâu về khoa học tự nhiên và kỹ thuật. EQ giúp người đó tìm hiểu sâu và thấm đượm nhiều về khoa học xã hội và nhân văn. Tiêu chí đặc trưng để đo đạc về IQ là tư duy lôgic, về EQ là tư duy nhân văn. IQ giúp tạo nên kỹ năng học và khám phá, EQ giúp hình thành kỹ năng sống và trải nghiệm. Thực chất EQ cũng đo sự thông minh dưới một hình thái khác: IQ thiên về thông minh lý trí (mang tính logic), EQ thiên về thông minh cảm xúc (mang tính nhân bản). Bởi vậy, EQ còn được hiểu là trí tuệ cảm xúc – thứ trí tuệ bao quát, thấm đẫm chất người, còn được gọi là văn hóa người. Thông thường, những ai có IQ và EQ đều cao thì đa năng, giỏi nhiều nghề thuộc cả hai lĩnh vực: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Khi định nhắm tới một nghề cho tương lai, ngoài việc chẩn đoán bằng trắc nghiệm khách quan (IQ, EQ,…), còn có cách nào tích cực hơn nữa để tự hiểu bản thân xem phù hợp (hay không phù hợp) với nghề đó?

– Còn vài cách khác, trong đó có một cách rất tích cực, tuy hơi mất thì giờ nhưng hiệu quả và độ chính xác rất cao. Đó là Job preview Qua những trải nghiệm thực tế đó (ngọt bùi và đắng cay…) mà tự hiểu về những gì tương hợp (hoặc không tương hợp) giữa nghề với bản thân mình. Các em có thể hỏi tìm hiểu thông tin, làm thử một thời gian tại vị trí mong muốn.

Đây là một phép thử-sai / thử-đúng, tựa như một thứ “giấy quỳ” để xác định nghề đó (và cả cái “nghiệp” của nó) có tương thích với mình hay không, tương thích hoặc không tương thích đến mức nào… Chẳng hạn, muốn học nghề y, hãy tìm một người thân quen (để giúp mình Job Preview) đang làm việc trong bệnh viện. Chỉ việc dành ra 2-3 ngày mỗi tuần (không cần lâu hơn) cùng đi với người đó lăn lộn trong môi trường bệnh viện, tiếp cận với thực tế chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân, thử nghiệm những gì có thể làm được (phụ việc) cho người đó, quan sát các động thái thao tác nghề nghiệp của người đó… Trên cơ sở ấy, hãy tự vấn kiểu như: Cảm nhận những gì về nghề y và thầy thuốc? Điều gì là đặc trưng cao đẹp và điều gì “sợ hãi” nhất của nghề ấy? Nghề y đòi hỏi những tố chất gì nơi thầy thuốc mới phục vụ tốt? Liệu ta có thích hợp với nghề đó hay không?…

 

Đó là vài dữ liệu căn bản nhất và cũng là những tín hiệu đáng tin nhất để tiến tới quyết định chọn hay không chọn nghề ấy.

 

Để chọn nghề và hướng nghiệp chính xác, các em đang đứng trước nhiều lựa chọn, giữa các yếu tố đòi hỏi năng lực giỏi. Nếu vì một lẽ gì đó, không có được năng lực, dễ bị tụt hậu. Nhưng nếu chạy theo nghề  lại thấy mình không đủ sức! Vậy, nên tự giải quyết như thế nào trước tình huống ấy?

 

– Giữa bài toán năng lực và sở thích, ta nên cân nhắc bởi đặc điểm vừa sức (vừa khả năng, vừa trình độ, vừa tính cách, vừa sức khỏe…, vừa cả túi tiền). Nghĩa là, phải căn cứ vào những nét riêng của từng cá nhân, mới lựa chọn phù hợp. Ở đây, phương châm “liệu cơm gắp mắm” là thượng sách. Trong nhiều yếu tố lựa chọn, có khi ta không thể chọn nghề theo sở thích mà phải thực tế  để chọn nghề phù hợp với mức năng lực của mình  thiết thực hơn và “chắc ăn” hơn. Đó là cách nhìn, cách xét và cách chọn của người có đầu óc thực tế, khác với người mơ mộng. Mơ mộng dễ trở thành ảo mộng và viễn vông, dù có khi mơ rất đẹp, mộng rất “vàng”. Bởi vậy, trong chọn nghề nói riêng và hướng nghiệp nói chung, nhiều khi phải tạm gác “giấc mộng vàng” để săn tìm những “thực tế xanh”. Thành công ban đầu là ở chỗ đó.

Em đọc trên báo thấy có lời nhận định thẳng thắn của một chuyên gia giáo dục nước ngoài, rằng “Thanh niên Việt Nam rất hiếu học, nhưng phần lớn chỉ lao vào học thi để lấy bằng, rồi lấy bằng để… lo kiếm sống hoặc kiếm danh. Hết!”. Nhận định như vậy có hơi quá đáng không ạ?

– Nếu căn cứ vào thực tế hiện nay, nhận định như vậy có lẽ không quá đáng. Thực trạng luyện thi nhan nhản, nhồi nhét đầy ắp trong các lò dạy chữ đã nói lên điều đó. Cần thấy đó là điều quá xót xa, phải giật mình để cảnh tỉnh. Thử tưởng tượng một xã hội mà lớp trẻ chỉ “lo lấy bằng để kiếm sống hoặc kiếm danh” (dù rất chính đáng và thiết thực) thì xã hội đó sẽ đi về đâu ?! Cái đích của tuổi trẻ (cũng là mục tiêu của giáo dục) là “mưu sinh” hay “phát triển”, là “kiếm tiền” hay “phụng sự”, là “được danh nghĩa” hay “có thực chất” ? Nên quay về với những giá trị sống nhân bản.

Nhưng, việc dùi mài kinh sử để luyện thi là thể hiện tinh thần hiếu học (coi chữ nghĩa hơn đồng tiền), sao lại không được nhấn mạnh để khuyến khích ạ?

 

– Có hai cách hiếu học, mỗi cách có một cấp độ giá trị riêng. Cách thứ nhất : hiếu học để đối phó với yêu cầu thi cử, lấy bằng cấp để mưu sinh, thậm chí để kiếm một địa vị, một danh vị trong xã hội. Cách thứ hai : hiếu học để thỏa mãn nhu cầu học hỏi, để đáp ứng khát vọng tự thân trong việc làm giàu trí tuệ và làm sáng tâm hồn. Xu thế của thời đại coi trọng và tôn vinh loại hiếu học thứ hai, với quan điểm: hiếu học như vậy mới nâng cấp giá trị bản thân, đem lại chất lượng đích thực cho con người trong tiến trình hướng nghiệp. Mặt khác, một thái độ hiếu học như thế mới là đặc trưng của một xã hội học tập thời @ – thời kinh tế tri thức, thời hội nhập toàn cầu. Một não trạng hiếu học như vậy cũng là bản chất của sự hoàn thiện nhân cách – coi sự học là suốt đời chứ không phải nhất thời qua thi cử.

Câu hỏi cuối : Nhiều người đã vô tình chọn lầm nghề, học nhầm trường, nhưng vẫn học được và tốt nghiệp ra trường. Một số trong họ chưa (hoặc không) cảm thấy khó khăn gì khi vào đời và lập nghiệp. Điều đó được hiểu ra sao?

– Đó là vì họ chưa đối mặt với những thử thách éo le trong nghề, chưa đụng chạm với những gai góc sắc cạnh của nghề. Chỉ khi bước sâu vào nghề và cọ xát với thực tế khắc nghiệt đó, họ mới thấy “dội” – dội từ cung cách làm việc đến thái độ hành nghề, nhất là khi va vấp những nghịch cảnh và đối diện với “nghiệp” cay đắng của nghề. Mặt khác, những người trong hoàn cảnh đó may lắm là chỉ “tồn tại” được trong nghề nhất thời thôi, làm được ở mức bình bình thôi, không thể khá hơn, sáng tạo hơn, phát đạt hơn, càng không thể “sống lâu” trong nghề. Bởi vậy mới có trường hợp hành nghề nhưng vẫn dửng dưng với nghề, “bỏ thì thương, vương thì nặng”, không mặn mà “yêu” mà chỉ chực chờ “ly dị” hoặc “ly thân” với nghề khi thời cơ đến.

Trong mọi trường hợp, thực tế trải nghiệm trong nghề nghiệp bao giờ cũng là người thầy phán xét khách quan nhất, cũng là sự giám định chính xác nhất về sự tương thích (hay không tương thích) của ta đối với nghề. Đấy là quy luật.

Sưu tầm từ internet

This entry was posted in Hướng nghiệp- Luyện thi đại học/tốt nghiệp hiệu quả cho học sinh cấp 3. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s